Skip navigation

Tag Archives: andersen

Chuyện của Trăng tạm dừng ở đêm thứ 13, tính ra đã được gần hai tháng. Tôi rất tiếc là mình đã không thể bầu bạn với Trăng và chàng họa sĩ trong suốt quãng thời gian vừa qua. Thực ra, đã có lần tôi định dịch đêm thứ 14, nhưng rồi cảm thấy nó quá bi thương, nên đành gác lại. Bây giờ, mọi bận rộn đã xong, tôi trở lại, nhưng với đêm thứ 15, coi như một món quà muộn dành cho ngày Valentine.

“Đêm thứ 15″ đề cập tới một số nhân vật sân khấu khá đặc biệt ở châu Âu vào thời cận đại. Sân khấu Việt Nam không có những nhân vật tương tự, nên tôi buộc lòng phải giữ nguyên danh tính họ. Để độc giả tiện theo dõi, tôi sẽ giới thiệu sơ qua về những nhân vật này trước khi đi vào chính văn.

Commedia dell’arte (viết tắt: CDA), hay còn gọi là ‘hài kịch ứng khẩu’ là một hình thức biểu diễn sân khấu ngẫu hứng ở Italia. Loại hình nghệ thuật này bắt nguồn từ thế kỷ 15 và đặc biệt phổ biến vào thế kỷ 18. Đây là một kiểu gánh hát lưu động, với những vở diễn không có kịch bản, không bán vé, chủ yếu dựa vào lòng hảo tâm của khán giả. Gánh hát có 10 nhân vật, 7 nam và 3 nữ. Những nhân vật của CDA có trang phục, mặt nạ và đạo cụ rất độc đáo và gây ấn tượng.

Nội dung vở diễn xoay quanh những tình huống sân khấu truyền thống: yêu đương, ngoại tình, ghen tuông v.v… CDA kết hợp giữa tiếng cười truyền thống và trào phúng những con người và sự kiện đương thời. Motif câu chuyện quen thuộc là một đôi tình nhân bị ngăn cấm, nhưng nhờ sự giúp đỡ của những người hầu tốt bụng mà họ đã đến được với nhau. Trong đó Columbina là tì nữ của vai tiểu thư (tương tự như Hồng Nương trong Tây sương ký), còn Harlequin là người hầu của vai công tử. Harlequin và Columbina cũng yêu nhau như hai chủ nhân của họ. Còn Pulcinella là một nhân vật có ngoại hình xấu xí: mũi dài, lưng gù, háo sắc và nhỏ nhen, theo đuổi Columbina.
_________________________

“Tôi biết một người đóng vai Pulcinella”, Trăng kể. “Chỉ cần anh xuất hiện là khán giả đã vỗ tay ầm ĩ. Vẻ hài hước nằm trong từng động tác của anh, nó làm cả nhà hát vỡ òa trong tiếng cười. Đấy không phải diễn xuất mà hoàn toàn là thiên khiếu. Anh vào vai thằng Gù từ khi còn là một cậu bé con chơi đùa với lũ bạn cùng trang lứa. Tạo hóa đã định cho anh như vậy bằng cách ban cho anh một cái bướu sau lưng, thêm một cái đằng trước ngực. Nghèo khó về ngoại hình, nhưng anh lại rất giàu có trong tâm hồn. Không ai sánh được với anh về độ sâu sắc trong cảm xúc hay sự sắc sảo của trí tuệ.

Nhà hát là một thế giới lý tưởng dành cho anh. Nếu có vẻ bề ngoài đẹp đẽ hơn, anh đã sớm trở thành kịch sĩ số một trên bất cứ sân khấu nào. Một tâm hồn quả cảm và vĩ đại, nhưng rốt cục anh chỉ có thể vào vai Pulcinella. Sự buồn bã u sầu của anh càng làm tăng vẻ khắc nghiệt đầy hài hước trên khuôn mặt góc cạnh của anh, càng làm dậy lên tiếng cười trong khán giả, những người đang nồng nhiệt tán dương nhân vật yêu thích của mình. Nàng Columbina dễ thương đối xử rất tốt với anh, nhưng chỉ thế mà thôi – nàng muốn lấy Harlequin kia. Cũng phải thôi, sẽ thực là oái oăm nếu sắc đẹp và xấu xí lại sánh đôi bên nhau trong đời thực.

Khi Pulcinella buồn, duy nhất chỉ mình nàng có thể làm anh bật lên một tiếng cười tự đáy lòng mình, thậm chí làm anh nở một nụ cười. Đầu tiên nàng sẽ làm bộ buồn bã cùng anh, rồi nàng im lặng, và cuối cùng thì nàng cười vui vẻ. “Em biết anh bị làm sao rồi”, nàng nói, “Anh đang yêu!”. Và anh không thể không cười. “Anh và Tình Yêu”, anh cười khổ, “Thế thì kỳ khôi phải biết. Khán giả sẽ cười đến chết!”. “Đúng mà, anh đang yêu”, nàng tiếp tục với một vẻ bi ai hài hước, “Và người anh yêu chính là em”. Bạn thấy đấy, người ta có thể dễ dàng nói ra một điều khi nó là bất khả. Quả thực, Pulcinella bật cười, cười đến gập cả người lại, và anh quên đi nỗi buồn của mình.

“Nhưng điều nàng nói lại là sự thật. Anh yêu nàng, yêu nàng tha thiết, cũng như anh đã từng yêu sự cao cả và vĩ đại trong nghệ thuật. Người vui vẻ nhất trong số quan khách dự lễ cưới của nàng chính là anh, nhưng cũng chính là anh khóc thầm trong đêm vắng. Nếu khán giả nhìn thấy bộ mặt méo mó của anh khi đó, họ hẳn phải vỗ tay ghê lắm.

“Chỉ mấy ngày sau, Columbina qua đời. Trong ngày cử hành tang lễ, Harlequin không phải lên sân khấu – anh ta vừa góa vợ mà. Đạo diễn cố gắng trình làng một vở kịch thật vui để khán giả quên đi sự thiếu vắng của nàng Columbina xinh đẹp và chàng Harlequin lanh lợi. Bởi thế nên Pulcinella càng phải pha trò một cách cuồng nhiệt hơn bao giờ hết. Anh nhảy và anh múa khi lòng đầy đau đớn; còn khán giả thì gào lên “Hoan hô! Hoan hô!”. Khi cánh gà đã khép, anh còn phải nán lại nhận sự tán thưởng của mọi người. Họ nói rằng anh là độc nhất vô nhị.

“Nhưng đêm qua, người nghệ sĩ bé nhỏ âm thầm một mình rời thị trấn, tìm tới khu nghĩa địa hoang vu. Anh ngồi đó, bên vòng hoa đã tàn trên mộ nàng Columbina. Đó thực sự là hình mẫu lý tưởng cho một họa sĩ. Hai tay chống lên cằm, anh ngước mắt nhìn tôi, và trông anh như một bức ngẫu tượng kỳ khôi – một gã Gù trên một nấm mồ – kỳ dị và quái đản. Nếu mọi người nhìn thấy diễn viên yêu thích của mình khi ấy, hẳn là họ sẽ lại gào lên như thường lệ “Hoan hô, Pulcinella! Hoan hô! Hoan hô!”.

Do có vài chuyện vướng bận ngoài dự kiến, thời gian này tôi không thể dịch tiếp Chuyện của Trăng đều đặn như thường lệ. Sang tháng hai tôi sẽ quay lại với Trăng và chàng họa sĩ.
Trăng kể với tôi: “Bên cạnh con đường mòn ven khu rừng nọ có hai ngôi nhà nhỏ. Cửa ra vào thì thấp, cửa sổ thì có cái tít trên cao, có cái lại gần sát đất; những bụi táo gai và hoàng liên mọc kín xung quanh. Mái nhà phủ đầy rêu và cây vẩy ốc, điểm xuyết những đóa hoa vàng.

Trong vườn chỉ trồng rặt bắp cải và khoai tây, nhưng ngoài bờ rào lại có một cây liễu, bên dưới gốc liễu có một cô bé gái, và cô bé thì đang chăm chú quan sát gốc sồi già mọc giữa hai ngôi nhà.

“Cây sồi đó già cỗi khô héo lắm rồi, ngọn cũng đã bị cưa đi, một chú cò tới làm tổ trên đó; cò ta đang đứng trong tổ của mình, cạp cạp cái mỏ. Một cậu bé trai đến bên cô bé –hai đứa là anh em mà.

“Em nhìn cái gì thế?”, cậu bé hỏi.

“Em đang xem con cò”, cô bé đáp. “Bác hàng xóm bảo em là hôm nay cò sẽ mang cho chúng mình một em trai hoặc một em gái. Chúng mình đứng đợi ở đây nhé!”.

“Lũ cò ấy chẳng mang đến cái gì đâu”, cậu bé cười, “Anh cam đoan với em đấy. Bác í cũng bảo anh như thế, vừa nói vừa cười. Anh mới bảo bác í thề danh dự đi, nhưng bác í không chịu; thế là anh biết ngay chuyện về lũ cò là không có thật, người ta chỉ nói với trẻ con chúng mình như vậy cho vui thôi”.

“Cơ mà nếu thế thì trẻ con từ đâu ra hở anh?”, cô bé hỏi.

“À, có một thiên thần từ trên trời bay xuống và mang theo trẻ con trong tấm áo choàng. Người thường không thể nhìn thấy thiên thần, vậy nên chúng mình sẽ chẳng bao giờ biết khi nào thì thiên thần xuất hiện”.

“Vừa lúc ấy, có tiếng xào xạc trên cành liễu. Hai đứa trẻ chắp tay lại, đưa mắt nhìn nhau: đúng là thiên thần đã mang em bé đến kia rồi. Hai em nắm tay nhau, đúng lúc cửa một trong hai ngôi nhà mở ra và bác láng giềng xuất hiện.

“Vào nhà đi các cháu”, bác láng giềng bảo, “Vào xem cò mang đến cho nhà ta cái gì này. Một em bé trai đấy nhé”.

Hai đứa trẻ nhìn nhau và gật đầu một cách nghiêm trang, vì cả hai đã biết thừa là em bé vừa mới đến.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.