Skip navigation

Tag Archives: từ

Viết. Vốn là một chuyện lao tâm khổ tứ. Cũng là một chuyện thư thái an nhàn. Lao khổ trong đầu mà thư thái trong tim. Lại là một chuyện vô cùng ngẫu hứng. Như chuyện của hôm nay.

Dạo gần đây tôi thường đọc Tử Chiêm. “Những kỷ niệm của ông trong cuộc sống ở Sahara làm phấn phát tinh thần ông, linh cảm ông, và xui ông chọn lựa sa mạc như là chỗ đồng nhất quy lai của cái nơi cái chốn ông đi về.” Khi giới thiệu về Exupéry, Bùi Giáng đã viết mấy câu này. Không biết lòng ông lúc ấy có chút gì nghĩ đến Tử Chiêm chăng? Tử Chiêm của cái thuở “Sa mạc hồi khan Thanh cấm nguyệt, hồ sơn ứng mộng Vũ lâm xuân.” Trăng Thanh cấm chiếu sầu đêm sa mạc, trời Vũ lâm in mộng triệu sông hồ. Giấc mơ Sahara của chàng phi công Saint-Ex và cơn mộng hồ sơn của người lãng khách Tử Chiêm, hình như đâu đó đã gặp nhau trong cõi lòng Bùi Giáng?

Hôm nay được ông bạn già tặng sách. Cuốn sách này tôi đã nghe tiếng từ lâu, chỉ là trước nay vẫn khước từ không chịu đọc bằng e-book. Bìa sách nghiêng nghiêng một màu nắng nhạt, màu sông hồ sa mạc của Tử Chiêm. Ngồi cà phê, thuận tay giở vài trang, tình cờ đúng khúc Xuân tình Điệp luyến hoa. Chi thượng liễu miên xuân hựu thiểu. Thiên nhai hà xứ vô phương thảo. Cành xuân tơ liễu dần tan, chân trời đâu cũng bạt ngàn cỏ thơm. Câu “cỏ non xanh rợn chân trời” của Thanh Hiên chính là lời đồng vọng với tiếng lòng ông đấy chăng? Đa tình khước bị vô tình não. Cái tươi sáng của buổi sớm thanh minh đời Gia Tĩnh ấy, hình như đã mơ hồ ứng triệu cơn mộng sầu dạo nọ của Tử Chiêm mất rồi.


Viết tại DNIT, tối 24 tháng Sáu năm 2008.
Trong số các từ nhân nổi danh đời Tống, người tôi ít đọc nhất có lẽ là Hoàng Sơn Cốc. Thật ra chuyện này chẳng có gì là lạ: từ gia thời đó nhiều như mây, đọc thi từ lại không phải như ăn cơm, đến bữa là ăn, nuốt đâu tiêu đấy. Về phương diện tác khúc điền từ, Sơn Cốc lại không lừng lẫy bằng Âu, Tô, Án, Liễu, sách vở nếu có ít đề cập đến ông hơn cũng là chuyện đương nhiên.

Mãi cho tới gần đây.

Ấn tượng sâu đậm nhất về một dòng thơ, rất thường khi lại không nằm trong chính dòng thơ ấy. Vấn thế gian tình thị hà vật, trực giáo sinh tử tương hứa. Mười ba chữ này nếu không nhờ vào đoạn kỳ duyên mười sáu năm của đôi tình lữ núi Chung Nam, hẳn cũng đã khó lòng mà thành ra bất tử.

Bài từ này, tôi đọc được trong Dạ vũ đả kim hà của Tiểu Đoạn. Cộng đảo kim hà gia vạn lý, nan đắc tôn tiền tương chúc. Sơn Cốc chú: “Đêm mười bảy tháng tám, cùng con em thả bộ từ lầu thành Vĩnh An, qua vườn nhà Trương Khoan Phu đợi trăng lên. Nhân có rượu ngon, bèn rót vào lá sen vàng mời khách. Khách có chàng Tôn Ngạn Lập giỏi thổi địch. Cầm bút đặt một khúc trường đoản cú theo lối nhạc phủ, xong không cần sửa.”

Năm đó ông bị giáng chức, một mình phiêu bạt đến Nhung châu. Bằng hữu đều ở cả kinh thành. Khúc Niệm nô kiều này buồn mà không thương, bi mà không lụy, phải chăng chính nhờ cái hào hùng phóng khoáng của riêng mình bốn chữ cộng đảo kim hà ấy? Lạc Hàn vào sinh ra tử, lặn lội bôn ba, phải chăng cũng chỉ vì bốn chữ cộng đảo kim hà ấy? Sen vàng dốc ngược quê xa, bên nhau chuốc chén sao mà khó khăn?

Nhớ. Những đêm say.

Hà Nội. Sài Gòn. Angkor Wat.

Mấy ngày trước, có một người từng hỏi: “Anh có định về lại nữa không?”

Mỉm cười. Cố tìm lời giải thích. Chỉ là cái nỗi lòng sâu thẳm nhất của con người ta, rất thường khi lại không nói được bằng lời. Đêm trước khi rời Hà Nội, đã một lần cảm thấy ngôn từ bất lực. Dầu thiên ngôn vạn ngữ, cũng không sao sánh nổi một tiếng hí của con ngựa đất Hồ.

Hồ mã, Hồ mã
Viễn phóng Yên Chi sơn hạ
Bào sa bào tuyết độc tê
Đông vọng tây vọng lộ mê
Mê lộ, mê lộ
Biên thảo vô cùng nhật mộ

Cổ thi có câu Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu sào nam chi. Cái thời Trung Hoa hùng mạnh, tứ phương phải bốn mùa triều cống: bắc cống ngựa hay, nam nộp chim quý. Hai loài cầm thú ấy được sống an nhàn trong ngự uyển, nhưng vẫn không nguôi lòng nhung nhớ cố hương. Thế nên ngựa Hồ mới nghe gió bắc mà hí vang. Thế nên chim Việt mới chọn cành nam mà làm tổ. Thế nên Phan Bội Châu mới lấy hiệu là Sào Nam. Chuyện giản đơn chỉ là như thế.

Nếu giản đơn chỉ là như thế…

Chỉ là con ngựa Hồ của Vi Ứng Vật năm xưa không hề có cái may mắn ấy, cái may mắn được nghe gió về và biết rằng lòng mình đang nhớ. Con ngựa Hồ dưới chân núi Yên Chi đang hoang mang, một nỗi hoang mang rất đỗi lạc loài và vô cùng xa ngái. Like a lost and lonesome weeping willow. Lost in the wood.

Dưới ánh tà dương là biên thảo dài ngút mắt, nhưng biết tìm đâu một nhánh cỏ chẳng vô tình?

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.