Skip navigation

Category Archives: DỊCH

Giấc mộng đầu hoa ngang ngửa thắm

Đã nói chuyện Giá cô thiên của nàng mà không dịch kể ra cũng là có lỗi.

Hoa sầu
Ngọc thảm
Người đi
Bên lầu liễu cứ xanh rì thế thôi
Chén này
một khúc chia phôi
Đường kia
năm chặng đưa người người ơi…
Tìm đâu?
Mộng đẹp xa rồi…
Biết ai thấu được tình tôi lúc này?
Gối lệ nhỏ
Thềm mưa bay
Cách song cùng khóc tới ngày bình minh.

Advertisement
Ra đời năm 1983, Đạm đạm u tình của Tiểu Đặng là album đầu tiên trong lịch sử âm nhạc hiện đại Trung Hoa phổ nhạc cho từ khúc cổ điển. Giai điệu tao nhã, giọng ca ưu mỹ, cái đó chẳng phải nói nhiều. Nhưng chỉ riêng chuyện lựa chọn danh phẩm đưa vào tuyển tập này chắc hẳn cũng là một chuyện “thôi xao” thực sự.

Tất nhiên, mấy trăm năm huy hoàng của từ đâu chỉ có vài tác giả. Đường mà không có Vi Đoan Kỷ, Ôn Bát Xoa, Tống lại thiếu vắng Án Thúc Nguyên, Lý Dị An, quả là đáng tiếc. Nhưng nói như Tô Đông Pha, thử sự cổ nan toàn, những cái tên xuất hiện trong Đạm đạm u tình đều là những lựa chọn xứng đáng.

Người đầu tiên được chọn là Nam Đường hậu chủ. Lý Dục được coi là từ khúc chi vương, từ của ông đương nhiên phải có vị trí cao tuyệt, ta chẳng cần bàn tới nữa. Sang tới Tống từ, hào phóng có Tô Thức, Tân Khí Tật, Phạm Trọng Yêm, uyển ước có Âu Dương Tu, Tần Quan, Liễu Vĩnh, đều là những cái tên khiến người ta khó mà không gật đầu đồng ý.

Duy có bài tiểu khúc thứ sáu trong album là khiến tôi ngạc nhiên. Ngạc nhiên mà lại không ngạc nhiên. Ngạc nhiên vì người ta đã không quên nàng, không ngạc nhiên vì nàng quả thực xứng đáng để cho người ta nhớ. Tên nàng là Nhiếp Thắng Quỳnh.

Giá cô thiên
Biệt tình

Ngọc thảm hoa sầu xuất phượng thành
Liên hoa lâu hạ liễu thanh thanh
Tôn tiền nhất xướng Dương quan khúc
Biệt cá nhân nhân đệ ngũ trình
Tầm hảo mộng
Mộng nan thành
Hữu thuỳ tri ngã thử thời tình
Chẩm tiền lệ cộng giai tiền vũ
Cách cá song nhi chích đáo minh

Nhiếp Thắng Quỳnh là một danh kỹ thời Tống, so với Tiết Đào thời Nguyên Hòa tài hoa không khác. Lý Chi Vấn và nàng tao ngộ ở kinh sư, tương thân tương ái. Lúc hai người chia tay, nàng viết khúc từ này.

Bài từ có hai nửa. Nửa đầu là ngày của chia ly, nửa sau là đêm của chia ly. Từ tuy là thứ văn chương đa sầu đa cảm, nhưng trước nay từ nhân đại đa số đều là nam tử, kể cả khi nói hộ lòng nhi nữ như Liễu Vĩnh – từ nhân của chốn giáo phường – thì ngôn ngữ vẫn còn chừng mực. Nàng thì không thế. Nàng là một người đàn bà, lại là một ca kỹ, bởi thế nên nàng bất chấp. Nói yêu là yêu, nói hận là hận, nói đoạn trường là đoạn trường. Ngọc thảm hoa sầu xuất phượng thành. Tôi đọc từ cũng nhiều, nhưng quả thực chưa thấy bài nào mở đầu bằng một câu tan nát lòng người đến thế.

Cũng một bóng liễu bên lầu, nhưng đâu được là liễu Chương Đài. Hàn Hoành và Liễu thị còn có nghĩa phu thê, Nàng và Lý sinh chỉ là bèo nước tương phùng, chỉ là cái duyên anh học trò với nàng ca kỹ, chẳng có gì vững vàng, chẳng có gì bảo đảm.

Biệt cá nhân nhân đệ ngũ trình. Nghe có gì chua xót đến tê người. Cái âm điệu luyến láy vấn vương mà da diết. Ca dao xưa cũng vậy, nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai… Hai chữ nhân đứng kề nhau như hai mái đầu ly biệt. Đau đớn lòng nhìn anh lần cuối, anh đây rồi mà xa ngàn khơi…

Đôi câu đoản cú đọc bình thường thấy đã hay, nhưng có nghe Tiểu Đặng ca mới thấy hết nỗi lòng của nàng ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng. Tôi vẫn nói Nguyễn Văn Thương viết câu này đáng gọi là thần cú. Tứ thì không mới, cũ là đằng khác. Tám chữ chỉ có một chữ sầu, nhưng tám chữ là bốn vẻ sầu khác biệt. Sầu ca kỹ, sầu soi gương, sầu ôm sầu, sầu lẻ bóng. Tiểu Đặng ca cũng vậy. Sáu chữ, mà sao nghe dài nhung nhớ như cả đời người. Tầm… hảo… mộng… mộng… nan… thành… Câu hát ngân nga dai dẳng, như than van, như nghẹn ngào, như níu kéo. Là thực đang níu mộng, hay mộng đang trốn thực?

Lệ rơi trên gối, mưa rớt bên thềm, tuy rằng một ướt trong song, một đẫm ngoài song, nhưng cùng nhỏ xuống thâu đêm, cùng chia nỗi sầu hiu quạnh của người ca nữ. Giờ còn mong chi người hát theo đàn, giờ còn mong chi hợp cánh hoa tàn…

Hồi ở nhà, tôi hay nghe nhạc trên đường. Từ độ sang đây, thời gian trên đường càng nhiều hơn trước. Bởi vậy, cũng nghe nhiều hơn trước. Nghe khi đi tram. Nghe khi chờ tram. Nhất là khi chờ tram. Trời lạnh, đường vắng, mây xám giăng đầy. Mái hiên nhỏ che không hết một chiều gió lộng, bên tai văng vẳng một khúc ca buồn.

Đã vài lần tôi thấy cảnh chia tay ở bến tram. Cũng chẳng có gì. Một người bạn đến thăm một người bạn. Tới lúc ra về, chủ nhà theo phép lịch sự tiễn khách ra tram stop. Chắc vậy, cũng chỉ vậy mà thôi. Nhưng bỗng nhiên lại thấy bùi ngùi. Bến tram của Melbourne, nó có gì đó khiến người ta liên tưởng đến đoản trường đình trong thơ xưa. Vọng quân hà sở kiến, quan lộ đoản trường đình – trông chàng nào thấy chàng đâu, đoản trường đình cũng nhuốm màu quan san…

Ngày xưa trên đường cứ năm dặm có một đoản đình, mười dặm có một trường đình, là nơi lữ khách nghỉ chân. Chẳng thế mà đoản trường đình lại gắn với biệt ly, gắn với người đi kẻ ở. Đoản trường đình hái nhành dương liễu. Đoản trường đình uống chén từ ly. Đoản trường đình hẹn ngày tái ngộ.

Đời một người biết có mấy bận chia ly? Chia ly đáng nhớ, chắc cũng không nhiều lắm nhỉ? Đời một tòa đoản trường đình, biết đã chứng kiến bao nhiêu cuộc chia ly? Chia ly của nhân sinh, hẳn là nhiều vô kể. Cho nên, cõi lòng ly biệt buồn thảm nhất, có lẽ không phải ở lòng người, mà ở lòng ngôi đình cũ đó chăng? Người đi kẻ ở nhớ nhau, chỉ có ngôi đình không chìm vào quên lãng. Nhành liễu xanh om kẻ ở hái cho người đi làm roi ngựa, cũng là liễu mọc bên đình. Chén rượu tiễn hành, nếu có rắc vào chút đất quê hương như Thế Dân tiễn Huyền Trang thuở trước, cũng là đất dưới chân đình. Nhưng ngày tái ngộ hẳn không phải dưới mái đình đâu nhỉ?

Ly biệt trọn đời nhưng chẳng có dù chỉ một lần tương tụ, có lẽ là số mệnh của đoản trường đình đấy chăng?

Bồ tát man
Lý Bạch

Bình lâm mạc mạc yên như chức
Hàn san nhất đới thương tâm bích
Minh sắc nhập cao lâu
Hữu nhân lâu thượng sầu
Ngọc giai không trữ lập
Túc điểu quy phi cấp
Hà xứ thị quy trình
Trường đình cánh đoản đình

Mịt mờ khói dệt rừng sâu
Hàn san một dải biếc màu chia phôi
Lầu cao nhuốm sắc chiều rồi
Trên lầu có kẻ chơi vơi dạ sầu
Bên thềm đứng lặng chờ nhau
Chim chiều mỏi cánh bay mau về rừng
Ngày về ai biết mà trông
Trường đình lại đoản đình không bóng người

Lâu ngày không dịch, đúng là chẳng dễ dàng gì.